ĐÁNH NGAY BỘ CHỈ HUY…

Sau ngày 30.4.75 nhiều gia đình Cán bộ, bộ đội từ miền Bắc vào Nam lập nghiệp, trong số đó có vợ chồng Hưởng, từ Hải phòng vào đây, vì là Cán bộ thâm niên nên đôi vợ chồng này được ưu tiên “hóa giá” nghĩa là được mua một căn nhà với giá tượng trưng, căn nhà do một gia đình sĩ quan chế độ cũ đã vượt biên. Từ ngày có gia đình Ông Hưởng dọn về ở, xóm tôi tự nhiên náo động hẳn lên, vì hầu như không ngày nào hai vợ chồng này không có những cuộc cãi vã, chúng tôi chẳng ai muốn can ngăn, phần vì còn lạ lẫm nhau, phần vì giữa chúng tôi và họ vốn đã có một hố sâu ngăn cách, khó mà hòa hợp nhau được.

Ông chồng vốn là một tay nát rượu, xưa nay bị kềm chế, bây giờ vào Nam, mặc sức mà uống, nên mỗi lần uống là mỗi lần say khướt, mà mỗi lần say là thế nào hai vợ chồng cũng lục đục. Một hôm cả xóm đang yên tĩnh, bỗng nghe tiếng thất thanh :
- Ối giời đất,thánh thần ơi, ối làng nước ôi, sao tôi có thằng chồng khốn nạn thế này hở Giời?

Chúng tôi chạy lại trước cửa, thấy anh chồng hai mắt nhíu lại, giọng lè nhè : – Khốn nạn hả, mày bảo ông khốn nạn hả, Khốn nạn mà sao mày cứ bám lấy ông như đỉa, mày làm khổ ông, mày giam hãm ông.

Hai bên lời qua tiếng lại, nhưng vì anh chồng đã nát rượu nên không thể cãi lại mụ vợ dẻo mồm, dẻo miệng, anh chỉ còn cách sử dụng nắm đấm làm biện pháp chiến thắng, nhưng đấm quờ đấm quạng, càng đấm cái loa rè càng tăng công suất. Chị vợ cũng không kém, càng sấn sổ vào gần chồng để xỉa xóị Bất ngờ, một cú đấm mạnh trúng ngay vào mồm,
Chị vợ hét lên :
- Ối làng nước ơi, đồng bào, đồng chí ơi! Nó đánh vào đài rồi. Thừa thắng xông lên, anh chồng nhắm ngay mắt vợ đấm cho một cú, chị vợ lảo đảo,vừa né vừa la:
- Ối giời ôi, Nó đánh trúng trung tâm nghe nhìn rồị Ông chồng đá tiếp vào chân vợ.
- Ối nhà nước ôi! Nó đánh vào Bộ giao thông vận tải rồị
Anh chồng quơ tay phải trúng ngay vú trái! Bà vợ càng la to hơn:
- Đồ vô nhân đạo! Đồ dã man, Mày dám tấn công vào cơ quan Bảo vệ bà mẹ và trẻ em nữa à?
Vợ càng la to, chồng càng hăng tiết, đấm ngay một cái vào vú phải.
- Ối giời đất ơi, Nó tấn công vào Tổng cục cao su rồi!
Anh chồng gào to:
-Mày nói gì, cái gì mà cao su với không cao su, Ông cho mày biết tay luôn…vừa nói hắn vừa nhắm ngay chỗ kín mụ vợ đá thẳng vào.
Bà vợ thét lên:
- Ối làng nước ơi, Ối Bác Hồ, Bác Giáp ơi, cái thằng chồng khốn nạn của con nó đã tấn công thẳng vào Bộ Chỉ Huy Sinh Đẻ Có Kế Hoạch của Bác rồi Bác ơi!

Khám mắt: mổ bụng bệnh nhân để lấy bộ phận.

Quý Anh Chị
1) Theo bài viết, tôi vừa gọi phone về VN cho bà Mai. Bà Mai ở thành phố , là cháu của bệnh nhân tên Bé.
2) Nôi dung tóm tắt như sau:
-mắt mờ
-đi khám Saint Paul
-Họ chuyển Bv Y Dược
-Chỉ có bệnh nhân Bé và cô cháu đi theo ( nghĩa là người vùng quê, thật thà)
-sau đó kêu mổ
-Chạy đủ tiền
-Cô cháu ký tên đồng ý cho mổ mắt
-Sau đó bệnh viện báo BN chết. Cô cháu chỉ biết khóc
-9 gio xe của BV Y dược đưa về nhà ở Tiền Giang. về nhà 11 g đêm. Máu ra rất nhiều ở xuồng (???)
-về 11g. 1 g khuya liệm
-Người nhà thấy mổ bụng và khâu sơ sài.
-Hàng xóm thắc mắc. Họp. Bàn là sẽ kiện vào thứ hai tuần sau
-Nhưng chủ nhật BS Cường đến và điều đình..

Thiển ý cá nhân:
1) Vì tình trạng dân trí quá kém, có thể một số BS đã lường gạt BN ở vùng quê mỗi khi họ đến điều trị.
2) Xin trị cái gì , BS cũng nói phải mổ. Vd mắt, mũi…
3) Khi mổ, BS sẽ lén mổ bụng để “ăn cắp” 1 trái thận bán cho nhà giàu.
4) Khi BN thắc mắc vì sao có vết mổ ở bụng, BS sẽ “bịa” ra đủ lý do để nói: vd trong khi mổ mắt, tôi thấy bà có khôi u ở bụng nên mổ luôn dùm, không lấy tiền !!!!
5) Vì Bệnh nhân ở vùng quê, kiến thức hạn hẹp và đã bị lừa
6) Trường hợp này, xui là bị mổ và đụng mạch máu, máu ra nhiều và gây tử vong.
7) Chúng ta nên khuyên người nhà ở VN gọi cho thân nhân ở vùng quê để từ đó phổ biến rộng. Đó là người ở vùng quê lên thành phố khám/chữa/mổ nên nhờ thân nhân hay tìm người giúp, người này phải “khôn lanh 1 chút” ở thành phố đi kèm. Nếu mổ, phải có giao hẹn như thế nào đó với BS. Vd cấm không được mổ cái gì khác ngoài điều đã thoả thuận! May ra, nhờ đề phòng trước, nhờ chận họng trước , sẽ bảo đảm an toàn cho đồng bào kém hiểu biết!
8) Hy vọng như thế, chúng ta sẽ giúp được đồng bào ở vùng quê không bị BS lường gạt để mổ mắt/mũi/họng nhưng …mổ thêm bụng để lấy thận bán!
9) năm 1990 gì đó 1 thân nhân của người quen của tôi bị tai nạn xe cộ chết. Bệnh Viện đã tự ý mổ xác! Nhưng người quen của chúng tôi đành làm thinh vì …không muốn đào mồ quật tử thi khi muốn kiện! ! Chán! vì có những vụ như thế nên BS/Bệnh viện ở VN cứ tiếp tục làm bậy.
10) Tôi đã đề nghị Bà Mai, thân nhân bà Bé, nên xin mổ tử thi bà Bé để tái nghiệm, kiện BS và BV Y duợc ra toà hầu giúp những người khác ở vùng quê không rơi vào tình trạng bà Bé

trân trọng
Hoàng Lan Chi

NGÀY LỄ CỦA MẸ… VỚI CUỘC ĐỜI TÔI !

Tôi sợ ngày Lễ của Mẹ, Mother’s Day, từ khi tôi còn nhỏ, vì tôi chào đời chưa bao lâu đã bị mẹ tôi vứt bỏ.

Mỗi năm tới Mother’s Day, tôi lại thấy ngại ngần. Trước và sau dịp Lễ của Mẹ, ti vi thường chỉ phát những ca khúc ca ngợi tình yêu thương của mẹ. Đài phát thanh cũng thế, có quảng cáo bánh quy đi chăng nữa, thì cũng cố lồng vào khúc nhạc ca ngợi tình mẹ, mà đối với tôi, mỗi khúc ca lại gợi nỗi buồn.

Tôi đầy tháng thì bị người ta bỏ rơi ở ga xe lửa Tân Trúc. Các bác cảnh sát trong đồn cạnh ga túm lại lo cho tôi. Những người đàn ông này tìm ra được một bà đang nuôi con bú, giá mà không tìm được bà, có phải tôi đã khóc tới mức phát bệnh không. Đợi tôi bú no rồi ngủ ngon lành, các bác cảnh sát này mới nhẹ nhàng ẵm tôi tới Trung tâm nuôi dưỡng trẻ Đức Lan ở thôn Bảo Sơn, huyện Tân Trúc (Đài Loan). Tôi được trao cho các bà sơ hay cười ở đó.

Tôi chưa từng gặp mặt mẹ tôi, hồi nhỏ tôi chỉ biết có các sơ nuôi tôi lớn. Mỗi tối, khi các anh các chị ngồi học bài, tôi chả có việc gì làm bèn túm lấy các sơ. Họ vào giáo đường đọc lễ tối, tôi cũng vào theo. Có lúc chui xuống gầm bàn lễ chơi đùa, có lúc làm mặt quỷ doạ các sơ đang hành lễ, thường xuyên nhất là tôi dựa vào một sơ nào đó ngủ gục, và bà sơ tốt bụng không đợi xong buổi lễ, khẽ bế tôi về đưa lên lầu đi ngủ. Tôi cứ cho rằng các bà sơ yêu tôi là bởi tôi giúp họ có cớ trốn sớm ra khỏi các buổi lễ.

Những đứa trẻ như tôi đều là con của những gia đình không may mắn, nhưng đa số họ đều còn gia đình. Tết đến, chú bác đều tới đón họ, chỉ có mỗi mình tôi, tôi không gia đình, nhà ở đâu tôi không biết.

Cũng vì thế, các nữ tu đối xử với đứa trẻ vô thừa nhận như tôi rất tốt, họ không bao giờ để cho ai bắt nạt tôi. Tôi học giỏi, các sơ vẫn tìm thêm người đến tình nguyện dạy tôi thêm.

Bấm đốt ngón tay, đã rất nhiều người làm gia sư cho tôi, đều là những nghiên cứu sinh, thậm chí giáo viên đại học các trường Thanh Hoa, Giao Thông quanh vùng, cả các kiến trúc sư, nên tôi từ nhỏ cũng rất giỏi tiếng Anh.

Các nữ tu ép tôi học đàn, năm lớp bốn tôi đã chơi phong cầm trong nhà thờ. Tôi tham gia các cuộc thi hùng biện, được làm đại diện học sinh của trường, nhưng từ nhỏ tôi tôi không muốn tham gia bất kỳ chương trình nào kỷ niệm ngày Lễ Của Mẹ.

Tôi yêu đàn, nhưng tôi kỵ phải chơi những bài hát tặng mẹ. Có những lúc tôi cũng nghĩ, mẹ mình là ai? Tôi đọc tiểu thuyết, tôi đoán tôi chính là một đứa con hoang. Cha tôi chơi bời chán thì bỏ rơi mẹ, và mẹ tôi còn quá trẻ chỉ còn biết mang tôi đi vứt bỏ.

Tôi đỗ vào cấp Ba trường Tân Trúc, rồi vào đại học, tôi đỗ khoa Xây Dựng của Đại học Thành Công (Đài Nam).

Thời sinh viên, tôi vừa học vừa làm. Đôi khi bà Tôn, người nữ tu nuôi tôi lớn cũng đến thăm tôi. Những cậu bạn cùng phòng thô lỗ của tôi vừa trông thấy bà đã vội trở nên lịch thiệp nhã nhặn. Rất nhiều bạn bè sau khi biết câu chuyện cuộc đời tôi đều an ủi, nói rằng, nhờ được các bà sơ nuôi dạy, tôi mới lịch lãm, bặt thiệp và giỏi giang như bây giờ. Ngày tốt nghiệp, bạn bè ai cũng có cha mẹ tới mừng. Tôi chỉ có một người thân duy nhất là bà sơ họ Tôn, chủ nhiệm khoa, vì thế đến chụp ảnh chung với bà.

Khi tôi đi lính nghĩa vụ, tôi tranh thủ về thăm trung tâm Đức Lan. Lần này bà Tôn bỗng đột ngột trở nên nghiêm trang, bà gọi tôi ra, lấy từ ngăn kéo một phong bì, bảo tôi hãy xem bên trong có gì.

Trong phong bì có hai chiếc vé. Bà Tôn cho tôi biết, khi cảnh sát ẵm tôi đến, trong áo tôi nhét hai tấm vé tàu này. Rõ ràng mẹ tôi đã dùng hai chiếc vé này để đi từ nhà tới ga Tân Trúc, một vé là đi từ phía Nam lên Bình Đông, tấm vé tàu còn lại là đi từ Bình Đông lên Tân Trúc. Đó là một tấm vé tàu chợ, tôi bỗng hiểu ra mẹ tôi là một phụ nữ nghèo.

Bà Tôn cho tôi biết, các bà sơ thường không thích đi dò hỏi tìm hiểu về gia cảnh những em bé sơ sinh bị vứt bỏ, vì thế họ cứ giữ hai tấm vé này, chờ bao giờ tôi lớn sẽ tính. Họ đã quan sát tôi rất lâu, cuối cùng kết luận tôi là người lý tính, đã có đủ năng lực để xử lý việc này. Họ đã từng đi qua thị trấn ấy, thấy nơi đó rất nhỏ, nếu thực lòng tôi muốn tìm người thân, có lẽ sẽ không khó khăn.

Tôi luôn mơ ước được gặp cha mẹ tôi một lần, nhưng giờ đây cầm hai tấm vé, tôi lại do dự. Giờ đây tôi đang sống rất tốt, có bằng đại học, có một cô người yêu sắp tính chuyện trăm năm, vì sao tôi lại phải đi ngược về quá khứ,đi tìm kiếm một quá khứ hoàn toàn xa lạ ? Hơn nữa tới tám chín phần là sẽ tìm được một sự thật không vui vẻ gì.

Bà Tôn ngược lại đã khích lệ tôi. Bà cho rằng tôi đã có một tiền đồ xán lạn, không lẽ nào để bí ẩn về cuộc đời tôi trở thành một bóng đen u tối phủ lên tâm hồn. Bà khuyên tôi nên chuẩn bị sẵn cho tình huống xấu nhất, cho dù phát hiện ra sự thật là những gì tồi tệ, cũng nên giữ lấy niềm tin vào bản thân mình trong cuộc đời phía trước.

Và tôi đã lên đường.

Đó là một thị trấn bé xíu trên vùng núi, tôi chưa từng nghe qua tên gọi. Từ Bình Đông còn phải ngồi ô tô hơn một tiếng mới tới. Dù là phương Nam nhưng vì đang mùa đông, nơi đây lạnh lẽo. Thị trấn đúng là rất nhỏ, chỉ có một con đường nhựa, một đôi cửa hàng tạp hoá, một đồn cảnh sát, một văn phòng của chính quyền thị trấn, một trường tiểu học, một trường trung học, ngoài ra không có gì nữa.

Tôi chạy đi chạy lại giữa đồn cảnh sát và văn phòng chính quyền. Rốt cuộc cũng tìm thấy hai thông tin có vẻ liên quan, một là dữ liệu của một đứa trẻ sơ sinh, một là thông tin gia đình báo mất tích con trai, thời gian mất tích là ngày thứ hai sau khi tôi bị bỏ rơi, đứa bé ra đời trước đó một tháng. Theo ghi chép của các sơ, khi tôi được phát hiện tại ga Tân Trúc, tôi cũng chỉ khoảng đầy tháng tuổi. Xem ra đây có vẻ là thông tin về tôi.

Vấn đề là : Bố tôi đã chết rồi, bố tôi qua đời sáu năm trước, mẹ tôi cũng chết cách đây mấy tháng. Tôi có một anh trai, anh đã bỏ thị trấn, không biết đi đâu.

Dù sao cũng là thị trấn nhỏ, ai cũng quen biết nhau. Một cảnh sát trong đồn bảo tôi, mẹ tôi làm nhân viên trong trường tiểu học, rồi ông dẫn tôi tới gặp hiệu trưởng.

Hiệu trưởng là một người đàn bà vô cùng nhiệt tình. Bà nói, đúng là mẹ tôi đã phục vụ lâu năm tại trường, là một người đàn bà vô cùng tốt bụng, còn bố tôi thì vô cùng lười biếng. Tất cả đàn ông trong thị trấn đều ra ngoài kiếm việc làm, bố tôi không chịu đi xa, chỉ quanh quẩn trong thị trấn làm thuê công nhật, mà thị trấn nhỏ lấy đâu ra việc mà thuê người làm, vì thế cả đời bố tôi chỉ ăn bám vào tiền mẹ tôi làm nhân viên tạp vụ. Vì không chịu làm việc, tâm trạng ủ rũ, ông đành mượn rượu giải sầu, say rồi có lúc đánh đập mẹ tôi, đánh anh tôi. Tỉnh rượu thì cũng hối hận đấy, nhưng thói xấu quen rồi, mẹ tôi và anh tôi khổ sở cả đời vì ông. Anh trai tôi lúc học lớp bảy đã phẫn chí bỏ nhà ra đi, từ đó không bao giờ quay trở lại đây.

Người đàn bà này rõ ràng có đẻ đứa con trai thứ hai, nhưng được một tháng tuổi thì đã mất tích bí ẩn.

Bà hiệu trưởng hỏi tôi mọi chuyện, tôi tình thực kể hết. Khi bà biết tôi được lớn lên trong một cô nhi viện ở miền Bắc, bà bỗng xúc động lấy từ ngăn kéo ra một phong bì. Đây là phong bì bà tìm thấy sau khi mẹ tôi mất, giấu dưới gối mẹ tôi. Bà cho rằng những thứ trong đó chắc chắn phải có ý nghĩa rất quan trọng, nên bà quyết định giữ lại, đợi người thân của mẹ tôi tới nhận.

Tôi run rẩy mở ra, thấy bên trong có rất nhiều vé tàu, từng tập vé tàu khứ hồi đi từ thị trấn miền Nam này tới Tân Trúc, tất cả được giữ gìn cẩn thận.

Bà hiệu trưởng cho tôi biết, nửa năm một lần mẹ tôi xin nghỉ đi miền Bắc thăm họ hàng, chả ai biết họ hàng nào, chỉ thấy mỗi khi về bà vui lắm. Cuối đời mẹ tôi theo đạo Phật, điều bà hạnh phúc nhất là đã quyên góp các tín đồ Phật giáo được một triệu Đài tệ để tặng cho cô nhi viện của đạo Thiên Chúa. Ngày trao tiền bà cũng đích thân đi.

Tôi nhớ lại, có lần một chiếc xe bus lớn đưa một đoàn thiện nam tín nữ từ phía Nam lên cô nhi viện. Họ trao tấm séc trị giá một triệu Đài tệ, quyên góp cho Trung tâm Đức Lan chúng tôi. Các bà sơ cảm động vô cùng, bắt tất cả bọn trẻ mồ côi phải đứng vào chụp ảnh kỷ niệm, tôi đang đánh bóng rổ cũng bị gọi vào chụp với mọi người một tấm ảnh. Giờ đây tôi bỗng dưng tìm thấy tấm ảnh ấy trong chiếc phong bì của mẹ. Tôi hỏi mọi người mẹ tôi là ai, họ chỉ vào người đứng cách tôi không xa.

Nhưng làm tôi cảm động hơn là cuốn sổ lưu niệm ngày tốt nghiệp của lớp tôi, có một trang được photocopy lưu lại trong phong bì này. Đó là trang chúng tôi đội mũ áo tốt nghiệp, có hình tôi ở trong đó.

Mẹ tôi, người mẹ đã vứt bỏ tôi, đã vẫn cứ đến thăm tôi, thậm chí có thể bà đã từng tham dự lễ tốt nghiệp của tôi.

Giọng hiệu trưởng nhẹ nhàng: ” Anh nên cảm ơn mẹ anh, bà đã vứt bỏ anh, là để anh được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nếu anh vẫn ở đây, cùng lắm là hết phổ thông anh lên thành phố làm thuê, ở đây hầu như rất ít người đỗ được vào Trung học. Mà nếu không may, không chịu nổi đòn roi của người cha, biết đâu anh cũng đã sớm bỏ nhà đi phiêu bạt như người anh trai, ra đi mãi mãi chả biết lưu lạc phương nào nữa.”

Những giáo viên khác trong trường cũng đến, đều chúc mừng tôi đã tốt nghiệp đại học Quốc lập. Họ nói thị trấn này từ xưa tới nay chưa từng có học sinh nào thi đỗ được vào trường đại học Quốc lập.

Tôi bỗng nhiên rưng rưng, tôi hỏi bà hiệu trưởng ở đây có cây đàn nào không. Bà nói, có đàn piano nhưng không tốt lắm, chỉ có đàn phong cầm thì mới mua.

Tôi mở nắp cây đàn, tôi hướng ra vừng mặt trời mùa đông ngoài cửa sổ, tôi chơi bản nhạc dành tặng mẹ trong những dịp Lễ Của Mẹ. Tôi muốn mọi người biết rằng, tôi tuy là một đứa trẻ mồ côi lớn lên trong trại mồ côi, nhưng tôi không mồ côi, vì tôi có những bà sơ tốt bụng nuôi dưỡng tôi như mẹ, vì tôi có một người mẹ đẻ ra tôi luôn thương tôi. Bà quyết đoán và bà hy sinh để tôi có môi trường tốt lớn lên, để tôi có tiền đồ sáng sủa.

Những thầy cô trong trường hát theo tôi. Tiếng đàn lan toả trong không trung, trong thị trấn vùng núi lạnh lẽo, trong ánh mặt trời chiều. Những cư dân trong thị trấn nhất định sẽ ngạc nhiên hỏi, vì sao hôm nay lại có giai điệu ngợi ca người mẹ?

Vì hôm nay với tôi là ngày Lễ Của Mẹ. Chiếc phong bì đựng những tấm vé tàu cũ này làm tôi từ hôm nay không còn là một đứa trẻ mồ côi sợ hãi ngày Lễ Của Mẹ nữa.

CHẾT OAN

CHẾT OAN

Tạ Quang Khôi

C ảnh sát viên David Ruthfield đến hiện trường cùng một lúc với xe cứu thương. Một cảnh tượng thê thảm hiện ra trước mắt anh. Một người đàn bà Á đông nằm úp mặt trên một vũng máu. Các nhân viên cứu thương xác nhận nạn nhân đã chết tức thì ngay khi gặp tai nạn. Chỉ có một nhân chứng trong vụ đụng xe này. Ông ta khai rằng đây là một vụ “đụng rồi bỏ chạy”. Nhân chứng là một người đàn ông da trắng. Ông cho biết ông rất bất mãn về các tai nạn kiểu này, vì thế ông cố gắng chờ đợi gặp nhà chức trách khai một vài chi tiết quan trọng, với hy vọng giúp điều tra viên tìm được kẻ gây ra tai nạn càng sớm càng tốt. Nhân chứng cũng cho biết khi xảy ra tai nạn cả bãi đậu xe trong khu thương mại này chỉ có mình ông và nạn nhân. Nếu ông bỏ đi, nhà chức trách sẽ vô cùng khó khăn khi điều tra. Lúc đó, trời đã nhá nhem tối, xe gây tai nạn là một xe SUV, màu nâu hay đỏ xẫm. Tai nạn xảy ra quá nhanh mà người lái xe lại phóng đi ngay nên ông không kịp nhìn thấy bảng số xe.

David ghi lại mọi chi tiết cần thiết kể cả số thẻ căn cước của nhân chứng, rồi để ông ta ra đi thong thả. Lúc đó đã có một số người hiếu kỳ đứng xa xa nhìn tới. David gọi điện thoại về trạm cảnh sát để báo cáo. Tức thì có hai xe cảnh sát khác tới ngay. Các nhân viên cứu thương đặt xác nạn nhân lên một chiếc băng-ca, rồi phủ kín từ đầu đến chân bằng một tấm vải trắng, đẩy băng-ca tới sau xe cứu thương. Khi cửa xe cứu thương vừa mở ra, David bỗng thấy xác chết ngồi nhỏm dậy. Anh thốt kêu :

“Ồ, còn sống !”

Một cảnh sát viên đứng cạnh hỏi lại :

“Mày nói gi ? Ai còn sống ?”

David chỉ tay về phía xe cứu thương, đáp :

“Nạn nhân chưa chết !”

Cả hai cảnh sát viên mới tới cùng nhìn về phía xe cứu thương, rồi lại nhìn David với vẻ mặt ngơ ngác, hỏi :

“Mày nói gì lạ vậy ? Nạn nhân nào chưa chết ?”

Vừa lúc đó, các nhân viên cứu thương đóng cửa xe, rồi sửa soạn cho xe chạy. David chớp mắt mấy cái, nhìn kỹ lại, chỉ thấy xe cứu thương chớp đèn đỏ, từ từ rời khỏi bãi đậu xe. Một cảnh sát viên mới tới nhìn David đăm đăm hỏi :

“Bộ mày mới uống rượu hả ?”

David lắc đầu :

“Không, tao chưa uống một giọt rượu nào. Rõ ràng tao thấy nạn nhân ngồi dậy…”

Người bạn cảnh sát nói đùa :

“Tao cũng rõ ràng thấy mày say. Cô ta chết thật rồi, đâu có sống lại được nữa. Mày say nên hoa mắt tưởng cô ta sống lại. Này, say rượu thì phải lái xe cẩn thận đấy.”

David cãi :

“Tao không say…Nhất đinh tao không say vì từ đêm qua tới bây giờ tao không uống một giọt rượu nào, kể cả bia”

David có một cuộc sống rất điều độ, chừng mực. Anh chỉ uống một lon bia

sau giờ làm việc, trong bữa ăn tối, rồi đi ngủ ngay. Chắc chắn anh không hoa mắt khi nhìn thấy nạn nhân ngồi nhỏm dậy, bước khỏi băng-ca. Bây giơ thì không thấy gì nữa. Chính anh cũng bắt đầu nghi ngờ đôi mắt mình. Hay tại anh mệt mỏi quá sau một ngày làm việc vât vả ? Anh đã từng phải đuổi theo kẻ gian len lỏi trong các con đường đông xe. Anh cũng đã phải đáp ứng lời kêu gọi của các bạn đồng nghiệp đến giúp họ bắt một tên cướp xe có súng…Nhưng so với nhiều ngày khác cũng có gì mệt nhọc hơn đâu. Anh vẫn cảm thấy khỏe mạnh và bình tĩnh.

Khi xe cứu thương và hai cảnh sát bạn bỏ đi rồi, David còn phải đợi thêm một lát nữa mới thấy xe của sở vệ sinh đến quét dọn nơi vừa xảy ra tai nạn. Sau hết, anh vừa định lên xe về trạm cảnh sát làm báo cáo thì lại trông thấy nạn nhân lảng vảng trước mũi xe của anh. ..

“Thế là thế nào ?” David lẩm bẩm tự hỏi. “Cô ta còn sống hay đã chết ?”

Bỗng anh nghĩ đến chuyện ma quỷ hiện hình. Anh cũng thấy hơi rờn rợn. Bất giác, anh để tay vào báng súng. Nhưng anh lại thấy ngay sự vô lý của mình. Anh chưa thấy ai dùng súng bắn ma bao giờ. Thật ra, bóng ma chỉ lởn vởn xa xa, không hề có ý tấn công anh mà cũng không trêu chọc anh. Vì thế, anh lấy lại bình tĩnh ngay. Anh lên xe, sửa soạn rời khỏi bãi đậu xe. Anh mở đèn trước mũi xe sáng hơn, không thấy bóng ma đâu nữa. Nhưng khi anh đã ra khỏi bãi đậu xe, định quẹo trái để về trạm cảnh sát, bóng ma lại xuất hiện. Nó ra hiệu cho anh đi về phía tay mặt. Anh ngạc nhiên và phân vân. Anh tự hỏi có nên đi theo bóng ma hay về trạm cảnh sát vì anh cũng sắp hết giờ làm việc, đã thấm mệt sau một ngày vất vả, muốn được nghỉ ngơi. Nhưng anh lại tò mò muốn biết bóng ma sẽ dẫn anh đi đâu ? Có một điều anh tin chắc rằng bóng ma không có ý hại anh. Nó chỉ có vẻ khẩn khoản muốn anh đi theo nó.

Suy nghĩ thêm một vài giây, David quyết định quẹo tay mặt vì một phần tò mò, một phần không muốn làm ma thất vọng. Con đường vắng vẻ, không có đèn, anh liền mở đèn pha để trông rõ bóng ma hơn. Nhưng trong vùng cực sáng của hai ngọn đèn, anh không còn trông rõ bóng ma nữa, chỉ thấp thoáng như ẩn như hiện. Anh nhấn ga cho xe chạy nhanh hơn xem có đụng phải nó không. Nhưng lúc nào nó cũng giữ một khoảng cách nhất định.

Bóng ma đưa David chạy quanh co qua mấy con đường vắng và tối om, rồi rẽ vào một khu có đèn hai bên đường. Anh giảm tốc độ và tắt bớt đèn.xe. Bóng ma vẫn ở phía trước. Anh nhìn nó chăm chú để xem nó chạy hay bay hay đi thong thả. Nhưng anh không xác định được. Nó không có một cử động nào, chỉ lơ lủng, cao hơn mặt đất một chút. Ðã nhiều lần anh tự hỏi anh có ảo giác không ? Rõ ràng có một cái bóng trước mặt, xa không xa mà gần cũng không gần. Anh đã thử chớp mắt nhiều lần mà không xóa nhòa cái bóng lờ mờ đó.

Rồi David rẽ vào một khu nhà cho thuê, bãi đậu xe có đèn sáng. Bóng ma ngừng lại bên cạnh một chiếc xe SUV đã cũ.màu đỏ xẫm, nước sơn đã bị tróc nhiều chỗ. Anh nhớ lại lời mô tả của nhân chứng duy nhất: “Ðó là một chiếc xe SUV màu nâu hay đỏ xẫm…” Bây giờ thì David hiểu rõ ý định của bóng ma. Anh ngừng xe và mở cửa, đi về phía bóng ma. Khi anh đến sát xe SUV thì không thấy bóng ma đâu nữa. Anh nhìn quanh, nhưng không tìm ra bóng dáng người đàn bà Á Ðông xấu số. Anh đi vòng quanh chiếc xe và nhận ra ngay cái cản phía trước, bên tay mặt, bị móp khá nặng. Anh chiếu đèn bấm để xem xét kỹ chỗ bị móp. Anh thấy có vết máu chưa khô. Rõ ràng xe mới gây tai nạn. Anh ghi bảng số xe, rồi gọi về trạm cảnh sát để hõi lý lịch của chiếc xe, đồng thời xin thêm người hỗ trợ. Chỉ trong vòng một phút, anh nhận được trả lời, cả tên chủ xe và sơ lược những chuyện xảy từ khi hắn có bằng lái xe. Hắn đã có thành tích hai lần chạy quá tốc độ và một lần lái xe trong khi say rượu. Nhà của hắn ở tầng lầu 3 trong khu nhà cho thuê này. Hắn mới ngoài 30 tuổi và làm công nhân cho một hãng thầu xây cất.

David vừa định đi vào khu nhà cho thuê, một cảnh sát viên khác đã đến hỗ trợ cho anh. Người bạn đồng nghiệp chưa kịp hỏi han gì, anh đã kể sơ qua tai nạn mới xảy ra trong bãi đậu xe của một trung tâm buôn bán cách đây mấy dặm. Anh cũng cho biết anh nghi người chủ xe SUV này là thủ phạm gây ra tai nạn ấy. Người bạn đồng nghiệp liền hỏi :

“Làm sao mày tìm ra cái xe này và nghi chủ nó là người vừa gây ra tai nạn chết người ? Những dấu vết này chưa đủ chứng cớ để buộc tội nó.”

David hơi lúng túng vì anh biết rằng chẳng ai có thể tin anh đã được bóng ma hay chính hồn ma của nạn nhân hướng dẫn đến đây. Anh đáp lững lờ :

“Tình cờ đến đây, cũng tình cờ thấy xe này. Mới chỉ nghi ngờ thôi…Mình cứ lên gặp chủ xe xem sao.”

Người bạn gật đầu :

“Lắm khi nghi mà lại đúng. Cũng nhờ may mắn.”

Trong thâm tâm, David đã tin chắc chủ xe là người vừa gây ra tai nạn rồi bỏ chạy. Không lẽ bóng ma lại chỉ bậy, oan cho người khác.

David gõ cửa nhà số 317. Anh và người bạn đồng nghiệp không phải đợi lâu. Cửa hé mở và một khuôn mặt đàn bà ló ra hỏi :”Muốn gì ?” David ôn tồn đáp : “Chúng tôi là cảnh sát, muốn gặp ông Michael Wright để hỏi ông ấy mấy điều.”

Người đàn bà liền trả lời xẵng :“Ðang ngủ !”, rồi định đóng xập cửa lại ngay, nhưng David đã kịp thời để một chân vào bên trong ngưỡng cửa. Lần này anh ra lệnh :

“Mở cửa rồi đánh thức Mike dậy.”

Nghe giọng đanh thép và nghiêm nghị của David, người đàn bà lưỡng lự một vài giây, rồi đành mở rộng cửa. Hai cảnh sát viên bước vào nhà trước vẻ mặt cau có, bực mình của nữ chủ nhân. David giải thích :

“Chúng tôi đang điều tra một tai nạn “đụng rồi bỏ chạy” làm chết một người cách đây hơn một tiếng trong bãi đậu xe của một trung tâm buôn bán.”

David thoáng thấy vẻ hoảng sợ trong đôi mắt của người đàn bà. Nhưng mụ lấy lại được bình tĩnh ngay, cãi :

“Chồng tôi đi làm về sớm, ăn uống xong là đi ngủ ngay.”

Người bạn của David lên tiếng :

“Chúng tôi cũng chỉ muốn hỏi chồng bà mấy câu thôi. Không có gì quan trọng hết.”

Người đàn bà rụt rè :

“Nhưng anh ấy ngủ say lắm….”

David nghiêm nghị :

“Ngủ say cũng phải gọi dậy bằng được. Ðây là một chuyện rất cần, không thể trì hoãn được.” .

Trước khi bước vào nhà trong, người đàn bà nhìn David bằng đôi mắt tức giận, hậm hực. David theo bén gót mụ. Khi cửa phòng ngủ vừa mở, anh ngửi thấy ngay mùi rượu nồng nặc trước khi nhìn thấy một người đàn ông nằm ngủ trên giường với cả quần áo đi làm. Trong bụng, anh càng tin Mike là người vừa gây tai nạn. Người đàn bà nhìn chồng bằng đôi mắt nửa bực bội nửa lo lắng, giữ im lặng. David ra lệnh :

“Kêu nó dậy !”

Mụ đàn bà tỏ vẻ phân vân, vẫn đứng yên.

David chợt nghe tiếng nói lớn của người bạn đồng nghiệp ngay sau lưng : “Ðánh thức nó dậy !”

Có lẽ vì lệnh ra với một giọng hách dịch, nghiêm nghị, người đàn bà vội tuân theo. Mụ lay chân chồng :

“Dậy đi ! Dậy đi ! Có cảnh sát tới kìa.”

Người chồng chỉ ú ớ mấy tiếng, vẫn nhắm nghiền hai mắt, rồi trở mình ngủ tiếp. Người bạn của David bước ngay vào phòng, đến bên người đàn ông, đập thật mạnh lên vai hắn, quát lớn :

“Dậy ! Cảnh sát !”

Người đàn ông giật mình, tỉnh ngủ ngay, ngơ ngác nhìn quanh. Người vợ liền giải thích :

“Cảnh sát đến hỏi anh về một tai nạn xe hơi.”

Người đàn ông ngơ ngác hỏi :

“Tai nạn nào ? Tôi đâu có biết.”

David bước đến bên cạnh giường, ôn tồn đáp :

“Ông Wright, đó là một vụ đụng rồi bỏ chạy trong bãi đậu xe của một khu thương xá.”

Hắn lắc đầu :

“Tôi có đụng ai đâu.”

Cảnh sát viên thứ hai đề nghị với David :

“Mình nên thử nghiệm xem độ rượu trong máu hắn ngay lập tức….Tốt hơn hết là mình tạm thời đưa hắn về trạm cảnh sát.”

David đồng ý ngay nên ra lệnh cho Michael Wright sửa soạn đi theo anh. Lúc này, Michael đã tỉnh ngủ hẳn và bắt đầu hiểu ra sự rắc rối của cơn say rượu. Nhưng hắn vẫn nghĩ hắn không đụng ai hết.

David gọi về trạm cảnh sát để báo cáo sơ qua cuộc điều tra đang được anh và người bạn tiến hành. Cuối cùng, anh xin cho xe đến kéo chiếc xe SUV của Michael về đồn làm tang chứng.

Sau đó, mọi chuyện xảy ra êm thắm trước đôi mắt lo sợ và buồn bã của vợ Michael Wright. Mụ đi theo chồng xuống bãi đậu xe, nhìn thấy cái cản của xe chồng bị móp và có vết máu, mụ giật mình hoảng sợ, trố mắt nhìn chồng, không thốt nên lời. Người bạn của David đưa Michael về trạm cảnh sát trước, còn David phải đợi xe trục đến kéo chiếc xe SUV đi.

Khi còn lại một mình, anh vào xe ngồi. Bỗng anh lại thấy bóng người đàn bà Á Ðông thấp thoáng trước mũi xe. Anh liền bật đèn phía trước để nhìn cho rõ. Nhưng cái bóng vẫn chỉ lờ mờ, thấp thoáng. Trong vòng nửa phút bóng ma lại biến mất. Anh tắt đèn để xem nó có trở lại không, nhưng anh chờ hoài cho đến lúc xe trục tới cũng không thấy bóng ma hiện ra nữa.

=================[]=================

David chọn một bộ quần áo thật đẹp và chiếc cà vạt màu xẫm để đến nhà quàn. Lâu lắm anh mới có dịp “đóng bộ” như thế này. Có lẽ một năm chỉ có vài ba lần thôi. Hôm nay, anh đến nhà quàn để đưa tiễn nạn nhân của vụ đụng xe rồi bỏ chạy. Ðúng ra, anh đến cảm ơn cô ta đã giúp anh bắt ngay được thủ phạm. Chỉ trong vòng có mấy tiếng đồng hồ, nội vụ được giải quyết xong xuôi. Michael Wright thú nhận đã uống rượu trong một quán ăn của khu thương xá trước khi về nhà. Lượng rượu trong máu hắn quá gấp hai lần lượng rượu cho phép một người được lái xe. Vì say quá hắn không biết mình đã gây tai nạn chết người nên cứ chạy thẳng về nhà. Mới chiều hôm qua người ta đã có kết quả thử nghiệm vết máu trên cản xe của hắn. Ðúng là máu của nạn nhân, một người đàn bà Á Ðông. Mọi người đều tỏ vẻ ngạc nhiên không hiểu tại sao David lại đến đúng khu nhà cho thuê, tìm đúng chiếc xe gây tai nạn. Anh nói thật là chính bóng ma của nạn nhân đã hướng dẫn anh tới đó. Nhưng đa số không tin lời anh, cho là anh nói giỡn, chỉ có mấy nữ đồng nghiệp tò mò hỏi thêm chi tiết. Anh không giấu diếm, kể lại mọi chuyện, từ đầu đến cuối.

Nhờ thành tích này, David được cấp trên khen ngợi. Anh dò hỏi nhân viên nhà xác của bệnh viện đã đưa nạn nhân vào xét nghiệm, nên được biết hôm nay là ngày cho thân nhân nhìn mặt người chết lần cuối cùng ở nhà quàn. Người ta cũng cho anh địa chỉ nhà quàn đó.

Những người trong gia đình nạn nhân tỏ vẻ rất ngạc nhiên khi David ngỏ ý muốn nhìn mặt người chết. Họ là những người Á Ðông, nhưng anh không biết họ là người Tàu, người Nhật hay người Triều Tiên…Họ mời anh ghi tên và ký vào một cuốn sổ. Có lẽ thấy tên anh lạ hoắc, họ tỏ vẻ phân vân như muốn hỏi một điều gì, nhưng lại rụt rè không dám. Họ lịch sự đưa anh đến bên quan tài. Ðó là một cô gái còn trẻ và khá xinh đẹp. Cô nằm nhắm mắt như đang ngủ, mặt có một lớp phấn hồng và đôi môi được tô son. David đặt một bông hồng lên ngực người chết, nói thật nhỏ như nói thầm với người chết:

“Cảm ơn cô. Nhờ cô, tôi đã bắt được thủ phạm gây tai nạn.”

Bỗng anh thấy người chết mỉm cười, nhưng nụ cười chỉ thoáng trong mấy giây rồi biến đi ngay. Anh liếc nhìn người đàn ông đứng cạnh, nhưng dường như ông ta không nhìn thấy gì.

Khi anh cáo từ, người đàn ông đưa anh ra tận cửa, rồi rụt rè hỏi :

“Ông với cô ấy quen nhau như thế nào ?’

David đáp ngay :

“Tôi chỉ biết cô ấy sau tai nạn.”

Người đàn ông mở to đôi mắt nhìn anh, tỏ vẻ không hiểu anh nói gì, đùa hay thật ? Không muốn mất thì giờ giải thích dông dài, anh lịch sự bắt tay ông ta, rồi thong thả bước đi.

Khi đứng giữa bãi đậu xe vắng vẻ, David nhớ lại nụ cười rất mơ hồ trên đôi mội đỏ thắm của nạn nhân nằm trong quan tài, rồi phân vân tự hỏI :”Cô ấy cườI thật hay mình trông lầm ? Hay chỉ là ảo giác? NgườI Á Ðông vẫn có cái thần bí riêng của họ, mình không sao hiểu nổi.”

TQK

4 tháng 9,

Subscribe feed

Chit chat box